Bảng giá đất năm 2020 tại TP.HCM

Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) vừa có văn bản gửi Thủ tướng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND Thành phố góp ý về khung giá đất giai đoạn 2020 – 2024. Những góp ý để tham khảo cho bảng giá đất năm 2020 tại TP.HCM.

 

Theo HoREA thì khung giá đất tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM còn nhiều hạn chế. Điều đó dẫn đến tình trạng giá đất trong Bảng giá đất năm 2020 chỉ bằng 30 – 50% giá thực tế.

 

 

 

 

 

Trong khi đó, thị trường thực tế có các khung giá đất hiện hành không đảm bảo được các nguyên tắc định giá phải phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường nên cần phải nâng mức trần giá đất lên.

 

icon-dong-hungole-blog (467) Xem thêm:

 

Chỉ ra sự bất cập của khung giá đất, HoREA dẫn khoản 3 Điều 18 Nghị định 44/2014 quy định: “Hằng năm, UBND cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất…”. Quy định này dẫn đến tình trạng giá đất trong bảng giá đất của các tỉnh thành, thành phố trực thuộc Trung ương phổ biến chỉ bằng khoảng 30 – 50% giá đất thực trên thị trường.

 

Cũng theo HoREA, hiện nay việc phân chia vùng kinh tế quá rộng, chưa hợp lý. Mà lẽ ra nên phân chia nhiều vùng hơn, mỗi vùng bao gồm các tỉnh có đặc điểm tương đồng.

 

Bên cạnh đó, quy định khung giá đất mới tại hai đô thị lớn của Việt Nam có mức giá như nhau là không hợp lý và không phù hợp với tình hình thực tế, đặc thù và sự khác biệt của hai thành phố này.

 

Trong lúc chưa sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, HoREA đề xuất Chính phủ ban hành khung giá đất mới, sẽ áp dụng cho giai đoạn 2020-2024, vì khung giá hiện tại sẽ hết hiệu lực vào ngày 29/12/2019.

 

Và HoREA cũng đề xuất phân thành 12 vùng để tính khung giá đất. Đối với hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM thì đề nghị quy định khung giá đất riêng.

 

Cụ thể, tại TP.HCM, HoREA đề xuất 3 phương án xây dựng khung mới Bảng giá đất năm 2020 tại TP.HCM:

 

Phương án 1: Giữ nguyên mức giá tối thiểu, tăng khoảng gấp đôi mức giá tối đa so với hiện tại.Cụ thể:

Khung giá đất ở là giá tối thiểu 1.5 triệu đồng/m2; giá tối đa 330 triệu đồng/m2.

Khung giá đất thương mại dịch vụ: giá đất tối thiểu là 1.2 triệu đồng/m2; giá tối đa là 260 triệu đồng/m2.

Khung giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải đất thương mại, dịch vụ: giá tối thiểu 900 nghìn đồng/m2, giá tối đa là 200 triệu đồng/m2.

Theo phương án này, thành phố có thể quy định bảng giá với mức giá đất cao hơn nhưng không quá 30% so với khung giá đất. Như vậy, giá đất ở tối đa là 429 triệu đồng/m2, giá đất thương mại dịch vụ tối đa là 338 triệu đồng/m2; giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tối đa là 260 triệu đồng/m2.

Khi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm như hệ số khu vực 1 (các quận trung tâm) năm 2019 là 2.5 lần. Thì giá đất tương ứng để thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước là: Giá đất ở tối đa là 1.072 tỷ đồng/m2, Giá đất thương mại dịch vụ tối đa là 845 triệu đồng/m2; Giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa 650 triệu đồng/m2.

Phương án 2: Giữ nguyên mức giá tối thiểu, tăng khoảng gấp rưỡi mức giá tối đa so với hiện tại.

Theo phương án 2, giá đất ở tối đa là 319.8 triệu đồng/m2; giá đất thương mại, dịch vụ tối đa là 253.5 triệu đồng/m2, giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa là 192.4 triệu đồng/m2.

Khi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm, khu vực 1 năm 2019 là 2.5 lần thì giá đất tương ứng thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đối với đất ở tối đa là 799.5 triệu đồng/m2, giá đất thương mại dịch vụ tối đa là 633.7 triệu đồng/m2, Giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa là 480 triệu đồng/m2.

Phương án 3: Giữ nguyên mức giá tối thiểu, tăng khoảng 1/3 mức giá tối đa so với hiện tại.

Theo phương án 3, khi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm, giá sẽ ở mức hợp lý, HoREA cho biết.

 

Ví dụ: Hệ số khu vực 1 năm 2019 là 2.5 lần thì giá đất tương ứng để thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước tương ứng: Giá đất ở tối đa là 700 triệu đồng/m2; Giá đất thương mại dịch vụ tối đa là 559.7 triệu đồng/m2; Giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tối đa là 419.7 triệu đồng/m2.

 

Trong ba phương án mà HoREA đề xuất thì phương án 1 có mức giá quá cao, không phù hợp với giá thị trường trong điều kiện bình thường, sẽ tác động đẩy giá thị trường bất động sản lên cao. Vì thế, HoREA đề xuất chọn phương án 3 vì có tính khả thi và mức giá hợp lý nhất.

 

Hiệp hội Bất động sản TP.HCM HoREA cho rằng, nếu trong trường hợp Chính phủ cân nhắc các yếu tố vĩ mô mà không lựa chọn phương án 3 thì có thể xem xét lựa chọn phương án 2, không nên chọn phương án 1.

Bài viết liên quan